BÀI TUYÊN TRUYỀN VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE
SINH SẢN TUỔI DẬY THÌ
1. Thời gian: 7h15 phút, ngày 9 tháng 2 năm 2026
2. Địa điểm: Sân trường - Trường TH Phúc Thành
3. Người Thực hiện: Cô : Nguyễn Thị Thúy - CB Tư vấn tâm lí học đường.
Kính thưa các thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh thân mến !
1.Nói chuyện với HS Khối lớp 4,5 về giáo dục sức khỏe sinh sản tuổi dậy thì:
Những điều cần lưu ý.
- Tuổi dậy thì (vị thành niên) là giai đoạn chuyển tiếp giữa tuổi thiếu nhi và tuổi trưởng thành. Chăm sóc, giáo dục sức khỏe sinh sản tuổi dậy thì đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tương lai sự nghiệp của mỗi người cũng như chất lượng dân số của toàn xã hội.
- Tuổi dậy thì - vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn. Độ tuổi vị thành niên là 10 - 18 tuổi.
Ở tuổi vị thành niên, dưới tác dụng sinh lý của hormone, cơ thể trẻ em sẽ diễn ra hàng loạt những thay đổi về hình dáng, cơ quan sinh dục, tâm sinh lý, phân biệt rõ giới tính nam/nữ và bắt đầu có khả năng tình dục, khả năng sinh sản.
- Sức khỏe sinh sản vị thành niên là tình trạng khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những yếu tố liên quan tới cấu tạo và hoạt động của bộ máy sinh sản ở tuổi vị thành niên.
- Những thay đổi về sinh lý ở tuổi vị thành niên:
*Với trẻ gái
+ Về thời gian: Bắt đầu từ khi 8 - 13 tuổi, trung bình 15 tuổi và hoàn tất dậy thì vào thời điểm trẻ được 13 - 18 tuổi;
+ Về phát triển cơ thể: thay đổi ở ngực, phát triển xương chậu (khung chậu của nữ tròn hơn và rộng hơn khung chậu của nam); xương đùi, các mô mỡ hình thành đường cong; phát triển chiều cao, cân nặng; bộ phận sinh dục phát triển, buồng trứng bắt đầu hoạt động bằng việc xuất hiện kinh nguyệt;
+ Về thay đổi sinh lý: bắt đầu xuất hiện kinh nguyệt.
*Với trẻ trai
+ Về thời gian: Bắt đầu dậy thì khi trẻ được 10 - 15 tuổi;
+ Về thay đổi cơ thể: vỡ tiếng; có ria mép xuất hiện và râu ở cằm; phát triển chiều cao và cân nặng; tuyến bã và tuyến mồ hôi phát triển, xương ngực và vai phát triển; các cơ rắn chắc hơn; hình thành trái cổ do sụn giáp phát triển;
+Về thay đổi sinh lý: Tâm sinh li có sự thay đổi.
*Những thay đổi về tâm lý ở tuổi vị thành niên
Với những đặc điểm sinh lý riêng biệt, trẻ vị thành niên dễ thay đổi tính cách, hành vi ứng xử như sau:
+ Tính độc lập: trẻ có xu hướng tách ra, ít phụ thuộc vào cha mẹ, chuyển từ sinh hoạt gia đình sang sinh hoạt bạn bè để đạt được sự độc lập. Đôi khi, trẻ có biểu hiện chống đối lại các quan điểm của cha mẹ.
+ Nhân cách: cố gắng khẳng định mình như một người lớn, có hành vi bắt chước người lớn.
+ Tình cảm: chuẩn bị cho mối quan hệ yêu đương, học cách biểu lộ tình cảm và điều khiển cảm xúc, phát triển khả năng yêu và được yêu, tỏ thái độ thân mật trong mối quan hệ với người khác.
+ Tính tích hợp: thu thập thông tin từ cha mẹ, nhà trường, bạn bè, xã hội,... để tạo ra giá trị của bản thân, tạo sự tự tin và cách ứng xử.
+ Trí tuệ: trẻ vị thành niên thường thích lập luận, nhìn sự vật theo quan điểm lý tưởng hóa.
*Nguy cơ hay gặp ở tuổi vị thành niên: Dễ bị lôi kéo sử dụng chất kích thích, chất gây nghiện, …
*Chăm sóc, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên như thế nào?
- Thời kỳ vị thành niên, trẻ gặp nhiều vấn đề khủng hoảng, hoang mang về tâm lý. Tuy trưởng thành về mặt cơ thể nhưng trẻ vị thành niên vẫn cần được giúp đỡ, giáo dục từ gia đình và nhà trường để phát triển đúng hướng.
Theo đó, gia đình, nhà trường và chính trẻ vị thành niên cần:
+ Rèn luyện về kỹ năng sống
- Chủ động tìm hiểu kiến thức về giới tính, sức khỏe sinh sản tuổi thành niên từ cha mẹ, thầy cô, người thân và bạn bè;
- Tâm sự những lo lắng, băn khoăn với người thân hoặc thầy cô;
- Duy trì thời gian biểu học tập, nghỉ ngơi, tập luyện và giải trí phù hợp;
- Phân biệt rõ ràng giữa tình yêu và tình bạn trong sáng.
*Chăm sóc sức khỏe thể chất và tâm lý
+ Cần có sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục của cha mẹ, người thân và thầy cô giáo;
+ Tránh xa các chất kích thích như rượu bia, thuốc lá, ma túy,...
+ Cha mẹ cần đặt mình vào vị trí của con, giúp con giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Cha mẹ cần tôn trọng quyết định của con nếu phù hợp.
2- Giải đáp thắc mắc, lắng nghe HS chia sẻ, tâm sự.
3. Kết quả ban đầu sau tư vấn, tuyên truyền:
- Ban đầu còn e ngại, nói đến vấn đề giới tính còn rụt rè, xấu hổ, chưa dám bộc lộ.
- Sau khi được tư vấn, tuyên truyền thì các em cởi mở hơn, muốn được chia sẻ, giải đáp riêng..