Vận dụng các trò chơi vào dạy học Tiếng Anh
Tham gia trò chơi Tiếng Anh chịu ảnh hưởng bởi các kỹ năng cho nên giáo viên phải thường xuyên giúp các em học sinh trong lớp luyện nghe, nói, viết nhiều để giúp các em tự tin tham gia các trò chơi Tiếng Anh. Bởi khi luyện nói, luyện viết học sinh sẽ nhớ được các từ vựng, các câu mà các em thường xuyên tiếp xúc, chính vì thế học sinh sẽ tham gia trò chơi đạt hiệu quả hơn.
- Phương pháp Pelmanism mới: dùng để luyện từ, rèn luyện trí nhớ của học sinh.
- Phương pháp Crossword mới: dùng để Warm up (Ôn lại các từ vựng đã học).
- Phương pháp Noughts and crosses: giúp học sinh đặt câu dựa vào từ đã cho.
- Phương pháp Lucky Stars dùng trong phần Practice: để thực hành cấu trúc, hay ôn lại các câu hỏi.
- Phương pháp Magical Round.
- Khả năng áp dụng sáng kiến: Được áp dụng cho các lớp ở Tiểu học.
+ Lợi ích thiết thực: Chất lượng dạy các kĩ năng giao tiếp Tiếng Anh đã được nâng cao đồng thời tạo hứng thú cho học sinh.
Để đạt hiệu quả cao trong một tiết dạy ngoại ngữ, có nhiều học sinh tham gia vào các hoạt động học, giáo viên phải nắm vững phương pháp kết hợp linh hoạt dưới nhiều hình thức hoạt động, câu hỏi. Trong phạm vi sáng kiến này, tôi xin được trình bày kinh nghiệm tổ chức một số hoạt động dạy và học trong lớp thông qua các trò chơi để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc nghe, nói, giao tiếp bằng Tiếng Anh.
*. .Phương pháp Pelmanism mới dùng để luyện từ vựng, rèn luyện trí nhớ của học sinh.
Đây là trò chơi kiểm tra từ vựng của học sinh. Với trò chơi này, học sinh sẽ lật hai ô tùy ý. Nếu phù hợp với nhau, có thể là cặp tranh và từ, cặp từ ở nguyên mẫu và quá khứ... thì coi như hai ô đó được lật. Nếu không phù hợp thì hai ô đó đóng lại cho lần lựa chọn sau. Ví dụ khi dạy English 4-Unit 2-Lesson2: Let’s talk; tôi đã cho các em tìm các cặp từ về tên các nước.
Tuy nhiên khi học sinh chọn cặp từ không đúng giáo viên cần nhanh tay bấm vào ô đó để từ biến mất và cho học sinh chọn cặp ô khác.
Ngoài việc kiểm tra từ vựng theo cách truyền thống như trên, tôi đã thiết kế trò chơi này như trò chơi Trúc Xanh do Centa hướng dẫn.
Ví dụ trước khi muốn cho học sinh xem bức tranh để vào bài, tôi có thể thiết lập để các em mở các ô từ và nghĩa mà các em đã học ở tiết trước. Khi các cặp ô chính xác mất đi thì bức tranh sẽ dần xuất hiện. Điều này lôi cuốn sự tò mò của các em nhiều hơn là cho bức tranh xuất hiện ra một cách áp đặt.
Trước hết, người giáo viên phải tạo ra một không khí gần gũi, thân thiện trong mỗi tiết học. Giáo viên phải biết tận dụng mọi tình huống để có thể giao tiếp với học trò bằng Tiếng Anh. Và tất nhiên với học sinh ở cấp Tiểu học thì điều này cần được làm một cách dần dần, đơn giản, cụ thể nhất. Sau đó tăng tiến dần. Làm việc này sẽ tạo thói quen cho học sinh là chuẩn bị sẵn sàng tư thế để nghe rồi nói Tiếng Anh cùng giáo viên.
Với học sinh Tiểu học việc chơi các trò chơi luôn làm các em hứng thú nhưng nếu học sinh trả lời: "Yes" bé thì giáo viên sẽ không tổ chức chơi nữa, nếu học sinh trả lời to thì giáo viên sẽ tiếp tục tổ chức trò chơi. Như vậy người giáo viên đã rèn cho học sinh cách trả lời câu hỏi rất tự nhiên và tạo không khí vui tươi cho lớp học trước khi vào bài.
Hay trong khi vào bài mới: Open your books.
Trong những bước vào bài giảng mới phần "presentattion", "Pre-reading" hoặc "Pre-listening", "Pre-writing", chúng ta cũng có thể yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi bằng Tiếng Anh đơn giản qua thực tế hoặc nhìn vào tranh:
Example: What is this? /What are they? / How many...?
Tất nhiên đối với học sinh ở cấp Tiểu học các em có thể trả lời bằng Tiếng Việt với những câu, từ mà không thể trả lời bằng Tiếng Anh. Hay trong quá trình luyện tập các cấu trúc ngữ pháp bao giờ cũng phải có hoạt động giữa giáo viên - học sinh, học sinh - giáo viên. Thậm chí cả việc nhắc nhở học sinh khi chưa thực sự chú ý vào bài giảng.
Example:
What are you doing? Look at the board, please!
Now open your book, please!
Như vậy việc nói, giao tiếp Tiếng Anh giữa giáo viên và học sinh có thể diễn ra ở mọi thời điểm trong giờ lên lớp, số người và chất lượng phụ thuộc vào sự linh hoạt của mỗi giáo viên chúng ta trong cách đặt câu hỏi sao cho đúng với tình huống, hợp với khả năng của học sinh.
Đồng thời, trong mỗi phần luyện tập, phải thường xuyên có sự giao tiếp giữa giáo viên và học sinh, học sinh và học sinh, nó được sử dụng như hệ thống làm mẫu; vì vậy, giáo viên phải chú ý cả kĩ năng sửa lỗi trong mỗi câu nói cho học sinh. Việc sửa lỗi các câu nói của học sinh như thế nào cho hiệu quả cần phụ thuộc vào mục đích của mỗi câu hỏi, nghĩa là câu hỏi đó hướng vào mục đích thông tin hay có mục đích luyện từ, cấu trúc ngữ pháp.
- Nếu mục đích là thông tin thì giáo viên không cần sửa lỗi sai vì mặc cảm "sai quá nhiều" sau khi nghe sẽ làm học sinh chán nản ngại giao tiếp lần sau.
- Nhưng nếu đang trong phần giảng cấu trúc thì giáo viên nhất thiết phải sửa lỗi ngay, vì mục đích luyện về ngữ pháp, từ vựng để đọc nên cần sự chính xác.
- Ta thấy rằng trong quá trình nói, giao tiếp giữa giáo viên và học sinh trong một tiết dạy Tiếng Anh là rất cần thiết và quan trọng trong việc luyện đọc. Do đó, người giáo viên cần có sự chuẩn bị bài chu đáo, thiết lập các trò chơi phù hợp với tình huống dạy và học cụ thể.
*. Phương pháp Crossword mới dùng để Warm up (Ôn lại các từ vựng đã học).
Đây cũng là một trong những trò chơi rất thú vị mà các em thường thấy trong chương trình Đường lên đỉnh Olympia ở phần thi Vượt chướng ngại vật do kênh VTV3 tổ chức. Do đó, khi thiết kế trò chơi phải làm sao để bắt mắt và hấp dẫn các em là điều đầu tiên cần nghĩ đến.
- Giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh có nhiều cơ hội để nghe và nói càng nhiều càng tốt. Song muốn phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh qua luyện nghe và nói cấu trúc câu thì giáo viên phải thiết kế các hoạt động trò chơi đi từ những tình huống có tính ngữ cảnh dễ đến những tình huống ngữ cảnh khó hơn.
Example:
Khi yêu cầu học sinh luyện câu trả lời cho câu hỏi: "What is this?"
Tôi đã làm như sau: Tôi giới thiệu mẫu câu bằng cách trực tiếp hoặc sử dụng rối, tôi cho học sinh luyện:
+ Lần 1: tôi đưa ra một số "Word Cues": a pink pen, a big eraser...
T: What is this?
Ss: It is a pink pen.
+ Với một số học sinh còn lúng túng, ngại ngùng khi nói thì giáo viên có thể giơ tranh hoặc đồ dùng trực quan lên và nói gợi mở.
T: It is.............
+ Sau dần, có thể yêu cầu học sinh đoán từ dựa vào gợi ý:
"Mapped dialogue".
+ Cao hơn có thể yêu cầu học sinh đoán từ theo chủ đề:
"Free role play".
- Để học sinh có thể làm tốt chủ đề này, tôi nghĩ rằng giáo viên cũng cần phải có kĩ năng tổ chức tốt "Give clear instruction Model". Giáo viên nên để thời gian cho học sinh chuẩn bị, thảo luận, trao đổi theo cặp nhóm trước, sau đó, yêu cầu các em tham gia trò chơi. Vì đây là hoạt động khó nên khi yêu cầu học sinh đoán, giáo viên nên gọi những cặp học sinh có năng khiếu làm mẫu trước và những học sinh khác có thể dựa vào đó để làm bài tương tự.
- Example: Unit 1 - lesson 2.
- Bài học với hoạt cảnh hai bạn đi học gặp nhau, chào nhau và giới thiệu tên, làm quen nhau. Tôi đã yêu cầu học sinh chơi trò chơi: "Role play" qua việc sử dụng "Mapped dialogue".
| Mary | Peter | Tom |
| Hello, I'm Mary | Hi! I'm Peter. What's your name? | My name is Tom. |
Có thể tổ chức luyện chuỗi trước khi luyện theo cặp như vậy học sinh có được sự giao lưu trong cả lớp, học sinh sẽ được phản hồi không chỉ ở thầy mà còn ở các bạn khác cùng lớp.
Sau đó tôi lại yêu cầu hai nhóm đối thoại tự do theo chủ đề này.
- Nhằm phát huy tính tích cực của học sinh luyện đọc qua các hình thức tổ chức trò chơi như: Relay Race, Team Games, Guessing Game.
- Muốn học sinh có hứng thú và chủ động trong việc học tập thì người thầy phải có sự chuẩn bị thiết kế các bước hoạt động một cách kĩ lưỡng, phải chuẩn bị cho những tình huống có thể xảy ra trong khi luyện tập. Đồng thời, giáo viên phải là người chủ động, linh hoạt tổ chức các trò chơi học tập sao cho phù hợp với dung lượng kiến thức cũng như khuôn khổ thời gian của tiết học.
Áp dụng một tiết dạy cụ thể: tiết 30, Unit 5: Can you swim?
- I can sing.
- What can you do?
+ Lần 1: Tôi làm cử chỉ điệu bộ để diễn tả khả năng của mình, từ đó học sinh nói từ và đặt câu.
+ Lần 2: Yêu cầu cả lớp nhắc lại câu: What can you do?
+ Cuối cùng, yêu cầu học sinh tự đặt câu diễn tả khả năng của mình, đồng thời, làm động tác cử chỉ điệu bộ để hỏi khả năng của bạn.
Lúc này, thông qua hoạt động trò chơi, học sinh đã phát huy được tính tích cực, chủ động của mình. Giáo viên quan sát học sinh nói, làm và đóng vai trò là người sửa lỗi. Có thể nói, kỹ năng nói đóng một vai trò quan trọng trong suốt quá trình luyện nghe, càng luyện nói nhiều thì càng phát triển kỹ năng đọc tốt.
4.3. Phương pháp Noughts and crosses giúp học sinh đặt câu dựa vào các từ đã cho.
Đây là trò chơi giống như Carô mà bất kỳ học sinh nào cũng có thể chơi được. Vì vậy, sử dụng trò chơi này sẽ giúp tất cả các em học sinh có cơ hội chọn lựa các ô số. Nếu các em cố gắng mà vẫn không trả lời được thì có thể nhờ sự trợ giúp từ đội bạn.
Trong tiết học Tiếng Anh, ngoài các hoạt động giao tiếp giữa cô, trò, luyện nói cá nhân dưới sự giúp đỡ của giáo viên ra, thì một hình thức giúp học sinh phát huy khả năng giao tiếp, hợp tác, thích thú và độc lập suy nghĩ nữa đó là hình thức học tập theo cặp (Pair work) và theo nhóm (Group work). Đây là một hình thức học tập hay, tạo mối thân thiện học hỏi lẫn nhau, giúp học sinh luyện nghe để nói tốt hơn. Nếu trong phần thiết kế bài dạy, bài nào cũng có, đó cũng là một đặc trưng cơ bản của tiết học ngoại ngữ thì khi luyện nghe nói theo cặp, nhóm sẽ có nhiều học sinh được tham gia, tăng thêm tần số luyện tập làm việc của học sinh, tiết kiệm được thời gian, qua đó tăng cường sự trao đổi hợp tác giúp đỡ nhau học tập giữa học sinh với nhau.
Đây là cơ hội giúp các em những học sinh hay xấu hổ, ngại nói trước lớp vì nghe không hiểu, sẽ có dịp nói tiếng Anh.
Song trong quá trình học sinh luyện nghe nói theo cặp, nhóm sẽ không tránh khỏi sự ồn ào và mắc những lỗi mà giáo viên khó kiểm soát. Vậy khi đó giáo viên sẽ làm gì?
Để tổ chức tốt được hoạt động này thì trước khi yêu cầu học sinh thực hành, giáo viên phải có sự hướng dẫn chu đáo, rõ ràng (Give clear instructions): khi nào bắt đầu làm gì và khi nào kết thúc và phải làm mẫu (Model) trước lớp.
Đồng thời, giáo viên không thể quên việc kiểm tra lại xem học sinh đã hiểu yêu cầu của mình chưa (Check instruction) và yêu cầu 1 hoặc 2 cặp thực hành trước lớp, giáo viên sửa lỗi nếu có. Trong khi các em thực hành theo nhóm, cặp, giáo viên cần đi tới chỗ các em để quan sát và giúp đỡ các em nếu cần thiết.
Example
Giáo viên có thể tổ chức cho các nhóm tham quan luyện đọc theo hình thức phỏng vấn (Interview). Học sinh phỏng vấn lẫn nhau trong nhóm về một đề tài do giáo viên gợi ý.
S1: What can you do?
S2: I can swim
S3: I can dance.
Để hoạt động trò chơi này được tiến hành tốt, các đề tài giáo viên đưa ra phải phù hợp với trình độ, đối tượng của học sinh trong lớp.
4.4. Phương pháp Lucky Stars dùng trong phần Practice để thực hành cấu trúc, hay ôn lại các câu hỏi.
Với trò chơi này, giáo viên thường dùng các con số để thực hiện, ví dụ các con số được vẽ từ AutoShapes.
Tuy nhiên, để tạo ra sự mới mẻ và lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học, tôi đã thay đổi những con số bằng hình những ngôi sao với nhiều màu sắc khác nhau, hoặc là các bức tranh bông hoa sinh động trong các tiết dạy . Điều cần lưu ý ở đây là phải thiết kế khéo léo để khi học sinh chọn vào số, ngôi sao, bông hoa hay màu sắc nào thì sự vật đó phải mất đi để tránh hiện tượng học sinh khác chọn nhầm và gây tranh cãi.
Đây là một hoạt động với yêu cầu cao, thường được áp dụng sau những phần luyện cấu trúc ngữ pháp có nhiều tình huống theo chủ đề. Đây là hoạt động phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh rất cao trong luyện đọc song đòi hỏi giáo viên là một người có kinh nghiệm tổ chức thì mới thành công. Với học sinh ở cấp Tiểu học mới bắt đầu học Tiếng Anh, để giúp cho các em có khả năng luyện đọc thông qua hoạt động đóng vai, giáo viên phải cho các em luyện tập đi từ dễ đến khó. Ban đầu, có thể yêu cầu các em đóng vai đọc lại lời nhân vật trong bài khóa, sau đó, giáo viên yêu cầu các em luyện tự do với tình huống thật trong lớp. Giáo viên có thể áp dụng trò chơi này với rất nhiều mẫu luyện tập.
*. Giáo viên cần sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh một cách linh hoạt, để các em ngồi thoải mái, không gò bó.
- Học sinh tiểu học ở độ tuổi còn ham chơi, các em chưa có được sự tập trung cao độ theo yêu cầu mà giáo viên đề ra. Điều đó đòi hỏi mỗi giáo viên cần có cách bố trí chỗ ngồi một cách hợp lý, linh hoạt nhất sao cho các em vui vẻ học tập và hoạt động một cách tích cực, hiệu quả.
- Giáo viên dựa vào năng lực học tập, giới tính, cá tính cũng như thể chất của học sinh để xếp chỗ ngồi cho các em sao cho các em luôn hứng thú học tập và tham gia các hoạt động với tinh thần thoải mái, tự tin và mạnh dạn nhất.
Ví dụ:
+ Xếp học sinh học học tốt Tiếng anh ngồi cạnh học sinh tiếp thu chậm để các em đó giúp đỡ, kèm cặp các bạn.
+ Xếp những em năng động, tích cực ngồi cạnh những em rụt rè để các em hỗ trợ nhau trong các hoạt động theo nhóm.
*. Giáo viên áp dụng các hình thức thi đua cho học sinh.
Giáo viên có thể cho các tổ thi đua xem tổ nào các bạn hăng hái phát biểu nhất, tổ nào các bạn nói Tiếng Anh tốt nhất, tổ nào nhớ nhiều từ mới nhất, hay tổ nào hát, kể chuyện bằng Tiếng Anh hay nhất. Hình thức này vừa có tác dụng với mỗi cá nhân, vừa có hiệu quả với cả tập thể. Các em học sinh biết “ mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Để phát huy tốt biện pháp này giáo viên cần phải thường xuyên điều chỉnh linh hoạt các thành viên giữa các nhóm, các tổ với nhau.
*. Sử dụng các kĩ thuật dạy học phù hợp gắn với các trò chơi bổ ích.
Cho học sinh chơi trò chơi trong tiết học Tiếng Anh không phải là sự lãng phí thời gian, vô bổ, hay có ảnh hưởng đến chất lượng tiết học đó theo quan niệm của một số người. Thực tế đó là sự vận dụng một số kỹ thuật dạy học theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học. Những kỹ thuật dạy học gắn với việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi là cách thức tốt thúc đẩy khả năng tư duy và vận dụng kiến thức vừa học của học sinh vào các trò chơi đó, không chỉ tạo cho các em sự hứng thú học tập, tạo không khí sôi nổi trong giờ học, mà còn tạo ra một sân chơi có sự tranh đua giữa các nhóm từ đó khuyến khích các em tích cực chủ động hơn trong hoạt động học tập của mình. Có rất nhiều trò chơi áp dụng cho mỗi bài học, mỗi tiết dạy khác nhau, dưới đây là những trò chơi được giáo viên thường xuyên áp dụng trong các tiết dạy.
+ Slap the board
- Mục đích:
+ Luyện đọc và củng cố kĩ năng nghe lại từ đã học và nhận diện mặt chữ (Thường áp dụng ở phần Warm up, Consolidation hoặc sau khi dạy từ vựng);
+ Luyện phản xạ nhanh ở các em.
- Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị bất kì đồ dùng nào
- Cách chơi: Cả lớp ngồi tại chỗ. Giáo viên giới thiệu tên trò chơi và vẽ một số hình khác nhau lên bảng: hình tròn, hình tam giác, hình vuông, hình chữ nhật, hình thoi, hình ê líp…. rồi ghi lại một số từ mới vừa học vào các hình trên. Giáo viên chia lớp làm hai đội và đặt tên cho mỗi đội, mỗi đội thường 5-6 học sinh. Lần lượt mỗi đội cử ra từng bạn lên thi đấu với bạn của đội kia. Hai bạn đứng trước bảng ở một khoảng cách nhất định và nghe giáo viên đọc một từ rồi nhanh chóng đập tay vào từ được ghi trên bảng, ai đập nhanh và đúng sẽ mang về cho đội mình 1 điểm (có thể gọi một học sinh lên đọc từ thay vì giáo viên đọc). Tiếp tục với cặp thi đấu khác, kết thúc là đủ số từ mà giáo viên đã nêu ra trước khi bắt đầu trò chơi.
- Kết thúc trò chơi: Cộng điểm đội nào nhiều điểm thì đội đó thắng, đội nào thắng sẽ được tặng một tràng vỗ tay.
Ví dụ:
English 3 – Unit 8: This is my pen?
Lesson 1 : 1-2-3
Mục tiêu: giúp HS ghi nhớ các từ vựng chỉ các dụng cụ học tập.
Giáo viên có thể hướng dẫn cho các em chơi trò chơi:
Dán những bức tranh về đồ dùng học tập hay viết từ lên bảng.
Gọi 2 đội, mỗi đội gồm 5 học sinh đứng trước bảng.
Sau đó cô giáo sẽ đọc to câu có đồ dùng học tập. Ví dụ "It's a book" (Đó là quyển sách). Lúc này, mỗi học sinh trong đội phải chạy nhanh đến bức tranh có từ đó và "đập" lên từ đó. Cuối cùng đội nào có số lần "đập" vào đồ dùng học tập đúng nhiều hơn sẽ là đội chiến thắng.
+ Bingo
- Mục đích: giúp học sinh thực hành, ôn từ thông qua việc kết nối âm với cách viết của từ.
- Cách chơi:Giáo viên yêu cầu lớp suy nghĩ 8 -10 từ theo một chủ điểm nào đó mà giáo viên yêu cầu và viết chúng lên bảng. Yêu cầu học sinh chọn 6 từ hoặc 9 từ bất kì và viết vào vở hoặc giấy. Giáo viên đọc từ tùy ý trong các từ đã viết ở trên bảng. Học sinh đánh dấu vào các từ đã chọn nếu nghe giáo viên đọc. Học sinh nào có 6 từ hoặc 9 từ được giáo viên đọc đầu tiên sẽ thắng trò chơi và hô "Bingo".
- Kết thúc trò chơi: Học sinh nào hô “Bingo” đầu tiên sẽ được thưởng một sticker.
Ví dụ:
English 5 – Unit 2: I always get up early. How about you?
Lesson 1 : 1-2-3 (P. 12)
Mục tiêu: giúp HS ghi nhớ các từ vựng chỉ hoạt động diễn ra trong ngày.
| Brush my teeth | Do morning exercise | Cook dinner |
| Cook breakfast | Go to school | Watch TV |
| Talk with friends online | Do my homework | Read comic books |
- giáo viên treo bảng phụ hoặc viết lên bảng các từ trên.
- Yêu cầu HS viết nhanh vào giấy.
- Sau đó hướng dẫn HS chơi trò chơi Bingo.
- HS nào hô to “ Bingo” đầu tiên sẽ là người chiến thắng trò chơi.
+ Rembering pictures
- Mục đích: Giúp học sinh nhớ từ vựng đã học.
- Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị một số bức tranh theo chủ đề, chủ điểm.
- Cách chơi: Chia học sinh thành 3 hoặc 4 nhóm. giáo viên cầm một số bức tranh liên quan đến từ vựng đã dạy ở bài trước và giơ lần lượt từng bức tranh lên.Các em nhìn vào bức tranh khoảng 4 đến 5 giây.Khi giáo viên giơ tranh xong, mỗi thành viên của các nhóm sẽ lần lượt chạy lên bục giảng và chỉ viết tên của một bức tranh.
- Kết thúc trò chơi: Nhóm nào có nhiều câu trả lời đúng nhất và hoàn thành nhanh nhất sẽ là nhóm chiến thắng và sẽ được thưởng một tràng vỗ tay lớn.
- Chia lớp thành 3 nhóm.
- Giáo viên giơ lần lượt và nhanh 4 bức tranh trên. ( SKIP– SKATE – COOK – SWIM)
- Mỗi học sinh của mỗi nhóm nhanh chóng lên bảng viết nhanh 1 từ
- Nhóm nào viết xong trước, viết đúng, viết nhiều nhất là nhóm chiến thắng
*. Áp dụng một số biện pháp tạo hứng thú học Tiếng Anh cho học sinh,các em trở nên yêu thích môn học này hơn, luôn chờ đợi những tiết học Tiếng Anh sắp tới. Số học sinh nhút nhát, thiếu tự tin giao tiếp đã giảm hẳn. Đặc biệt là các em có năng khiếu rất thích được tham gia các Hội thi về tiếng Anh, các em có thể tự tin biểu diễn các bài hát Tiếng Anh, kể các câu chuyện và thuyết trình về một số chủ đề một cách trôi chảy, tự tin. Chất lượng môn Tiếng Anh tăng dần qua các kì học.
GV thực hiện
Nguyễn Phương Thảo