MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
HS NĂNG KHIẾU MÔN TOÁN
Môn Toán có vị trí rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, khả năng tư duy sáng tạo vốn trí tuệ cho học sinh đồng thời nó cũng góp phần vào việc hình thành những phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như cần cù, cẩn thận, có ý vượt khó, làm việc có kế hoạch có nền nếp, có tác phong khoa học.
Bồi dưỡng HS năng khiéu Toán 4, 5 là thực sự rất cần thiết. Bởi vì:
+ Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở Tiểu học và học tập tiếp môn Toán ở Trung học.
+ Môn Toán giúp HS nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó mà HS có phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống.
+ Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề; nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo; nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nền nếp và tác phong khoa học.
* Một số giải pháp nâng cao chất lượng HS năng khiếu môn Toán
* Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh ghi chép. Hướng dẫn học sinh ghi lại việc làm của mình về một bài toán. Cần phải ghi lại các ý tưởng đã dẫn đến sự thành công, cũng như thất bại. Chính những điều này giải thích cho ta cách mà học sinh đã tìm tòi, vận dụng và suy nghĩ khi làm bài. Từ đó, giáo viên bồi dưỡng nghiên cứu điều chỉnh cách dạy hợp lí và định hướng thêm cho học sinh cách học toán , giải toán và tìm câu trả lời ngắn gọn chính xác.
* Biện pháp 2: Khuyến khích học sinh trình bày cách giải của mình. Trong một bài toán nâng cao có thể có nhiều cách giải, lời giải đi đến kết quả đúng. Có nhiều kĩ năng, kĩ xảo để giải vì thế việc rèn cho học sinh lối suy nghĩ tổng thể, định hướng chính xác. Chọn lọc cách giải ngắn gọn, ít bị nhầm lẫn và dễ hiểu. Cần mở rộng, tự tin trình bày các cách giải khác đúng và có tính thuyết phục. Khuyến khích học sinh giải bằng nhiều cách rèn luyện tính suy nghĩ tìm tòi sự đa dạng trong toán học.
* Biện pháp 3: Sử dụng sơ đồ đoạn thẳng trong giải toán. Phần nhiều các dạng toán mở rộng và nâng cao giải bằng sơ đồ đoạn thẳng, nhất là các bài toán có văn. Vì vậy việc sử dụng sơ đồ đoạn thẳng cần được quan tâm hàng đầu; phân tích chặt chẽ đâu là dạng số phần bằng nhau, dạng toán nào là sơ đồ đoạn thẳng giúp các em tóm tắt chính xác và phân tích tìm tòi cách giải đúng trong sơ đồ.
Ví dụ : Hãy tìm 4 số tự nhiên liên tiếp có tổng là 30.
Mới nhìn các em nhầm tưởng đây là dạng toán liên quan tới trung bình cộng vì tổng của 4 số tự nhiên tiếp bằng 30. Các em lấy 30 : 4 để tìm ….Xong áp dụng sơ đồ đoạn thẳng thì dễ hiểu và đơn giản. Đó là tìm ra mối quan hệ của 4 số tự nhiên liên tiếp, sau đó lấy tổng 30 trừ đi phần thừa (1 +2 + 3) để tìm 4 lần số bé và tìm ra được kết quả bài toán. Ngoài ra, hướng dẫn học sinh cách giải khác giúp các em mở rộng và phát triển trí thông minh,suy nghĩ tìm tòi các cách giải phù hợp với tư duy. Nếu ta gọi số bé là a, thì học sinh sẽ tim được mối quan hệ của 3 số tiếp theo là: a +1 , a +2 , a +3, và tính tổng của: a + a +1 + a +2 + a + 3 = 30 ( a x 4 ) + 6 = 30
hay a x 4 = 24 a = 24 : 4 a = 6 các em dễ ràng tìm được các số tiếp theo .
* Biện pháp 4: Tìm kiếm các công thức phụ đơn giản hơn . Để giúp học sinh thực hiện nhanh và chính xác cần bổ sung các công thức phụ được chuyển hóa từ những công thức cơ bản được lồng ghép từ những kiến thức cơ bản SGK Toán 5. Công thức phụ có thể là chìa khóa để tìm các yếu tố cơ bản cần và đủ trong bài.
Ví dụ : Để tìm tổng 2 đáy của hình thang khi đã biết diện tích và chiều cao, hay tìm chiều cao của hình thang khi khi biết diện tích và 2 đáy.
Giáo viên phải gợi ý để các em thiết lập công thức phụ từ công thức tổng quát: Diện tích hình thang lấy trung bình cộng của 2 đáy nhân với chiêu cao ( cùng đơn vị đo ) S = x h ↔ 2 x s = ( a + b ) x h → ( a + b ) = s x 2 : h → h = (s là diện tích, a là đáy lớn, b là đáy bé , h là chiều cao )
* Biện pháp 5: Xây dựng công thức tính toán một số dạng toán: Trong một số dạng toán nâng cao liên quan đến các lớp học khác ở bậc trên phải xây dựng công thức tính đơn giản theo sự hiểu biết của các em. Đây là việc làm hết sức quan trọng giúp các em nhớ lâu và chính xác để giải tốt các mệnh đề theo yêu cầu đặt ra.
Ví dụ: từ bài toán đơn giản “ có 4 người cùng bắt tay nhau, mỗi người bắt tay với người khác một lần. Hỏi có tất cả bao nhiêu cái bắt tay ?
Để suy luận logic thật là trừu tượng. Nếu không xây dựng công thức học sinh dễ nhầm lẫn, làm sai kết quả. Lấy sơ đồ minh họa hình thành công thức tính đơn giản
2 1 3 4 Số cái bắt tay = n x ( n – 1 ) : 2 ( n là số người )
* Biện pháp 6: Hãy trả lời câu hỏi bằng tư duy, tự kiểm tra kết quả. Không cung cấp những thông tin, bài toán quá dễ. Trong quá trình giải toán buộc học sinh phải suy nghĩ tìm tòi lập luận, giáo viên hướng dẫn gợi mở để học sinh suy nghĩ giải quyết và biết cách thử lại kết quả bài làm của mình khi thực hiện xong yêu cầu của bài, phân tính kĩ các yếu tố liên quan, mối quan hệ để bảo đảm kết quả của bài giải là đúng.
* Biện pháp 7: Động viên học sinh thích học toán nâng cao. Học sinh chỉ có thể giải tốt học tốt toán nâng cao khi xác định được mục đích và trách nhiệm, bởi vậy kích thích học sinh thích và ham học là điều không đơn giản vì học toán nâng cao không thú vị đòi hỏi nhiều thời gian, công sức. Phải khéo léo kích thích học sinh mỗi bài toán giải được là một niềm vui vì đã trinh phục đỉnh cao của kiến thức là niềm vinh dự của người học, của thầy cô, gia đình.
* Biện pháp 8: Dạy đầy đủ các chuyên đề toán bồi dưỡng nâng cao lớp 4,5 – Dạy hết các chuyên đề toán bồi dưỡng học sinh năng khiếu, liên hệ mối liên quan giữa các chuyên đề. Học sinh thực hành giải qua các đề thi hàng năm của cấp Huyện và Tỉnh thông qua đó đối chiếu so sánh chất lượng đội tuyển của từng năm đưa ra kế hoạch bồi dưỡng phù hợp.
GV thực hiện
Nguyễn Lan Phương